Hỗ trợ trực tuyến

Kinh doanh
Điện thoại: 
024.3557.8619
CSKH:
024.3553.5888

Hotline Miền Bắc

 Mr Đình Hùng  : 0918 582 088
Hotline Miền Nam
Mrs Hồng Nhi : 0918 872 188

Giỏ hàng

Giỏ hàng trống

Thống kê truy cập

1244294
Hôm nay
Trong tuần
Trong tháng
Tổng cộng
90
1740
6058
1244294
Đỗ Ly

Đỗ Ly

      Ba phần tư chặng đường của năm 2021 đã qua nhưng kết quả giải ngân vốn đầu tư công của cả nước vẫn ở mức thấp, thậm chí có bộ, ngành chưa giải ngân kế hoạch vốn. Thực trạng này không những gây lãng phí nguồn lực, thời gian, mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2021. Trong những tháng còn lại của năm 2021, nếu các bộ, ngành, địa phương không quyết liệt thúc đẩy tiến độ các dự án thì kế hoạch giải ngân vốn đầu tư công khó hoàn thành.

Dự án xây dựng cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 đang được đẩy nhanh tiến độ thi công, vượt mùa lũ 2021. Ảnh: Tuấn Lương

      Giải ngân mới đạt 47,38% kế hoạch

     Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến ngày 30-9, số vốn đầu tư công đã giải ngân là 218.550,92 tỷ đồng, đạt 47,38% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2020 (đạt 56,33%). Trong đó, có 4 bộ và 11 địa phương có tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 60%. 36 bộ, ngành và 20 địa phương giải ngân dưới 40% kế hoạch giao, 3 bộ chưa giải ngân kế hoạch vốn. Đáng lưu ý, còn 34 bộ, cơ quan trung ương và 37 địa phương chưa phân bổ hết kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách trung ương.

     Nguyên nhân tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp, theo Bộ Tài chính, là do dịch Covid-19 bùng phát, các địa phương phải thực hiện giãn cách xã hội đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án. Còn theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, giá nguyên liệu đầu vào gia tăng, một số vật liệu thiếu hụt ảnh hưởng đến phương án tài chính của hợp đồng đã ký. Nguyên nhân nữa là do sự chậm trễ trong giải phóng mặt bằng; việc lập kế hoạch vốn chưa sát với thực tế và khả năng giải ngân; thiết kế thi công, đấu thầu lựa chọn nhà thầu chậm; sự phối hợp giữa các cơ quan thiếu chặt chẽ...

     Dù còn nhiều nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải ngân vốn đầu tư công, song vẫn có bộ, ngành, địa phương giải ngân tốt. Điển hình, đến hết quý III-2021, Bộ Giao thông - Vận tải đã giải ngân được 26.464 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 61% kế hoạch.

    Theo Vụ trưởng Vụ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ Giao thông - Vận tải) Nguyễn Danh Huy, để đạt kết quả trên, Bộ đã thành lập tổ công tác đặc biệt về giải ngân vốn đầu tư công do đồng chí Bộ trưởng làm tổ trưởng để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, xử lý các điểm nghẽn trong triển khai các dự án đầu tư. Cùng với đó, các chủ đầu tư phối hợp chặt chẽ với nhà thầu, chính quyền địa phương nỗ lực tháo gỡ vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thiếu hụt vật liệu, nhân công… nhằm bảo đảm tiến độ kế hoạch.

                                              

Dự án hầm chui Lê Văn Lương - Vành đai 3 đang được các đơn vị khẩn trương thi công. Ảnh: Trọng Tài

Thực hiện đồng bộ các giải pháp

     Từ nay đến hết năm 2021, còn tới hơn 50% nguồn vốn đầu tư công phải giải ngân. Đây là thách thức không nhỏ, đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm của các bộ, ngành, địa phương.

      Để đạt được tốc độ giải ngân như trên, chuyên gia kinh tế Trần Đình Thiên cho rằng, cần làm rõ trách nhiệm người đứng đầu bộ, ngành và chủ đầu tư trong thực hiện dự án đầu tư công. Còn theo chuyên gia kinh tế Đinh Trọng Thịnh (Học viện Tài chính), phải tiếp tục thực hiện các biện pháp kiểm soát dịch Covid-19 linh hoạt, tạo điều kiện cho chủ đầu tư, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án.

     Để thúc đẩy giải ngân đầu tư công, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề xuất 5 nhóm giải pháp. Trước tiên, các bộ, ngành, địa phương cần quyết liệt tháo gỡ các rào cản, khó khăn, vướng mắc, khơi thông điểm nghẽn trong triển khai các dự án. Trong khi đó, Bộ Tài chính đề nghị các đơn vị hoàn thành sớm các công trình triển khai tại nơi ít chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh; chủ động rà soát các dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 60% để điều chỉnh vốn cho các dự án có khả năng giải ngân hết trong năm nay. Cùng với đó, các đơn vị phải phân bổ ngay kế hoạch vốn năm 2021 cho các dự án đã khởi công, đủ điều kiện để sớm giải ngân.

     Tại Hà Nội, các tổ công tác của thành phố định kỳ giao ban xây dựng cơ bản hằng tháng để đôn đốc, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn trong thực hiện dự án và giải ngân vốn. Cùng với đó, các chủ đầu tư đang tiếp tục đánh giá tình hình triển khai dự án từ nay đến cuối năm để điều chỉnh kế hoạch vốn. UBND thành phố yêu cầu mỗi chủ đầu tư chủ động giải pháp đẩy nhanh tiến độ dự án; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong giải ngân vốn để đạt được kết quả như đã cam kết với UBND thành phố (giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao) và chuẩn bị dự án khởi công trong năm 2022.

    Tại Thông báo số 262/TB-VPCP ngày 5-10-2021 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương về đẩy mạnh giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố thường xuyên rà soát, đôn đốc, kịp thời tháo gỡ khó khăn vướng mắc phát sinh của từng dự án; cụ thể hóa trách nhiệm đến từng cá nhân. Cùng với đó, đề cao kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu cố tình làm chậm tiến độ giao vốn, giải ngân vốn...; rà soát kỹ ngay khâu chuẩn bị dự án, lựa chọn dự án giao vốn, thiết kế, đấu thầu, thi công đối với từng dự án.

     Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng yêu cầu tập trung đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, tháo gỡ vướng mắc phát sinh, lập hồ sơ thanh toán ngay khi có khối lượng thi công; tạo thuận lợi cho lưu thông, vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, không để xảy ra ách tắc nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn phòng, chống dịch bệnh…

Sưu tầm (HLĐ)

Bộ TN&MT kiến nghị Chính phủ cho phép UBND tỉnh nơi dự án đi qua được điều chỉnh nâng công suất khai thác mỏ đất theo nhu cầu của dự án.

      Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà vừa ký văn bản trình Thủ tướng Chính phủ kết quả kiểm tra công tác quản lý, cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường cung cấp cho các dự án thành phần thuộc dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020.

                            Kiến nghị Chính phủ điều chỉnh công suất mỏ vật liệu làm cao tốc Bắc - Nam 1

Các dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam đang triển khai thi công cần khoảng 51 triệu m3 đất đắp

Thiếu đất đắp, nhiều dự án sẽ chậm tiến độ

     Theo Bộ TN&MT, tại thời điểm kiểm tra, 9/11 dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam có tổng nhu cầu đất đắp nền đường khoảng 51 triệu m3 (sau khi đã sử dụng đất đắp nền đường tại chỗ).

     Ngoài hai dự án thiếu khối lượng rất ít (Cam Lộ - La Sơn, đoạn qua Quảng Trị thiếu khoảng 0,16 triệu m3, cầu Mỹ Thuận 2 thiếu khoảng 0,04 triệu m3), các dự án còn lại thiếu khối lượng lớn, gồm: Mai Sơn - QL45 (thiếu 7,13 triệu m3), Cam Lộ - La Sơn (đoạn qua Thừa Thiên Huế thiếu 1,9 triệu m3), Vĩnh Hảo - Phan Thiết (thiếu 7,5 triệu m3), Phan Thiết - Dầu Giây (thiếu 4,5 triệu m3).

“Các dự án này cần đủ đất đắp nền đường ngay trong năm 2021, nếu không sẽ bị chậm tiến độ thi công”, văn bản của Bộ TN&MT nêu rõ.

      Bên cạnh đó, các dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam mới khởi công hoặc đang lập thiết kế bản vẽ thi công cũng thiếu nhiều nhưng chưa có nhu cầu sử dụng ngay, gồm: QL45 - Nghi Sơn (5,5 triệu m3), Nghi Sơn - Diễn Châu (7,3 triệu m3), Diễn Châu - Bãi Vọt (6,85 triệu m3), Nha Trang - Cam Lâm (5,56 triệu m3), Cam Lâm - Vĩnh Hảo (4,4 triệu m3).

      Báo cáo của Bộ TN&MT nêu rõ, để cung cấp vật liệu đắp nền đường cho các dự án thành phần cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020, trước khi triển khai dự án các địa phương đã quy hoạch 204 mỏ đất, gồm: 77 mỏ đã cấp phép khai thác, 112 mỏ chưa đủ điều kiện khai thác và 15 mỏ đã quy hoạch nhưng không đủ trữ lượng làm đất đắp nền.

      Theo Bộ TN&MT, từ khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 60 (16/6/2021) đến ngày 15/9/2021, có 17 mỏ đất được cấp phép mới và 4 mỏ đất được nâng công suất lên đến 50% (Bình Thuận: 3 mỏ, Thừa Thiên - Huế: 1 mỏ).

      Liên quan công tác quản lý giá bán vật liệu xây dựng, kết quả kiểm tra cho thấy, nhiều địa phương không công bố giá đất san lấp, hoặc chỉ công bố khi có đề nghị của ban quản lý dự án (Thanh Hóa), có công bố giá đất san lấp nhưng không bao gồm loại đất có K95 và K98 phục vụ cho dự án (Thừa Thiên Huế).

      Đánh giá của Bộ TN&MT cho biết, sau khi Nghị quyết 60 của Chính phủ ban hành, công tác rà soát, giải quyết thủ tục cấp phép khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường làm vật liệu cho dự án cao tốc Bắc - Nam đã có chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, khó khăn, vướng mắc.

      Điển hình, số lượng các mỏ quy hoạch cung cấp cho dự án nhưng chưa cấp phép khai thác khá nhiều, phần lớn là các mỏ mới cấp phép đang thăm dò (28 mỏ) hoặc đã thăm dò nhưng chưa cấp khai thác (45 mỏ), chưa cấp phép thăm dò (33 mỏ) nên cần thời gian giải quyết thủ tục hành chính từ thăm dò, phê duyệt trữ lượng, lập dự án đầu tư, đánh giá tác động môi trường để cấp phép khai thác.

      Bên cạnh đó, nhiều địa phương như: Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Bình Thuận, Hà Tĩnh,… số lượng các mỏ đất sét đã cấp phép khai thác khá nhiều, trữ lượng vượt quá nhu cầu đất đắp nền đường nhưng công suất theo giấy phép khai thác thấp hoặc rất thấp (chiếm gần 65%).

“Nếu nâng công suất khai thác tối đa đến 50% theo Nghị quyết 60 của Chính phủ, chỉ tăng được 10-30% tổng nhu cầu vật liệu đất đắp nền trên địa bàn, đặc biệt là nhu cầu năm 2021”, Bộ TN&MT nêu rõ.

                          Kiến nghị Chính phủ điều chỉnh công suất mỏ vật liệu làm cao tốc Bắc - Nam 2

Cao tốc Vĩnh Hảo - Phan Thiết là một trong số các dự án đứng trước nguy cơ chậm tiến độ nếu không có đủ nguồn đất đắp nền đường trong năm 2021

Kiến nghị nâng công suất khai thác mỏ theo nhu cầu dự án

     Để kịp thời xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc cung cấp đất đắp nền đường cung cấp cho dự án và khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thời gian qua, Bộ TN&MT kiến nghị Chính phủ cho phép điều chỉnh nội dung Nghị quyết 60 như đề nghị của Bộ GTVT tại Công văn 9608 ngày 15/9/2021: “Cho phép UBND tỉnh nơi dự án đi qua được điều chỉnh nâng công suất khai thác theo nhu cầu của dự án thành phần trên địa bàn địa phương”.

     Việc quyết định nâng công suất phải đảm bảo tuyệt đối an toàn lao động, bảo vệ môi trường. Sau khi cung cấp đủ khối lượng cho dự án thành phần trên địa bàn sẽ dừng việc nâng công suất, tiếp tục khai thác theo công suất quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản đã cấp.

     Bộ TN&MT cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND các tỉnh nơi dự án đi qua thường xuyên chỉ đạo các sở, ban, ngành, chính quyền địa phương các cấp có liên quan thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về giá xây dựng, công bố giá vật liệu xây dựng trên địa bàn đầy đủ, kịp thời, phù hợp với biến động giá thực tế tại địa phương (bao gồm cả vật liệu đất đắp).

    “UBND các tỉnh thành có dự án đi qua cần tăng cường kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản để xử lý các hành vi vi phạm theo quy định, kiên quyết thu hồi giấy phép khai thác đối với các tổ chức, cá nhân không cung cấp vật liệu cho dự án đã nêu trong giấy phép khai thác và quy định của Nghị quyết 60”, Bộ TN&MT đề nghị.

     Về giải pháp lâu dài, Bộ TN&MT đề nghị Chính phủ xem xét, kiến nghị Quốc hội cho phép ban hành một số luật sửa nhiều luật, trong đó có Luật Khoáng sản liên quan đến thủ tục hành chính, thủ tục, thành phần hồ sơ cấp phép hoạt động khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, trong đó có vật liệu cung cấp cho dự án trọng điểm quốc gia thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội.

     Đồng thời, Chính phủ giao Bộ TN&MT chủ trì thực hiện nhiệm vụ: Điều tra, đánh giá nguồn vật liệu cung cấp cho đường cao tốc (đất san lấp, đá xây dựng, cát san lấp) đối với 4.000km đường cao tốc còn lại làm cơ sở để Bộ GTVT chủ động về nguồn vật liệu khi lập nghiên cứu khả thi.

    “Đề nghị Chính phủ giao Bộ GTVT rà soát, đánh giá tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành về vật liệu san lấp nền đường cao tốc để điều chỉnh, bổ sung phù hợp với tình hình sử dụng vật liệu san lấp nền đường cao tốc ở khu vực và trên thế giới”, Bộ TN&MT đề xuất.

     Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ từ ngày 28/7 - 5/8/2021, Bộ TN&MT đã chủ trì, phối hợp với với các Bộ: GTVT, Xây dựng, Công an, Công thương, NN&PTNT, LĐ-TB&XH, Tài chính thành lập các đoàn kiểm tra công tác quản lý, cấp phép thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng cung cấp cho dự án cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020 tại 10 tỉnh, thành: Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, Vĩnh Long.

Sưu tầm (HLĐ)

Trường hợp được cấp thẩm quyền thông qua, cao tốc kết nối Hà Giang với tuyến Nội Bài - Lào Cai dự kiến sẽ khởi công xây dựng vào năm 2024.

Bộ GTVT vừa có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Yên Bái về việc đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án xây dựng đường cao tốc kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai.

Theo Bộ GTVT, cao tốc Nội Bài - Lào Cai được coi là tuyến “kinh tế xương sống” cho cả khu vực Tây Bắc. Kể từ sau khi được đưa vào khai thác, sử dụng, tuyến cao tốc này đã mang lại hiệu quả KT-XH rất lớn.

                                              Bao giờ khởi công cao tốc kết nối Hà Giang với tuyến Nội Bài - Lào Cai? 1

    Dự án xây dựng đường cao tốc kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai được đề xuất đầu tư dài khoảng 83,3 km, tổng mức đầu tư khoảng 8.737 tỷ đồng

    Một số dự án đã được nghiên cứu để kết nối các tỉnh Tây Bắc với cao tốc Nội Bài - Lào Cai như: Kết nối tỉnh Lai Châu, Điện Biên (qua nút giao IC16), kết nối tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ (qua nút giao IC9), kết nối tỉnh Hà Giang, Yên Bái (qua nút giao IC14).

    Trong đó, việc nghiên cứu đầu tư xây dựng đường cao tốc kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai sẽ nâng cao khả năng kết nối giữa các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, rút ngắn hành trình từ Hà Giang và các địa phương khác trong khu vực về Thủ đô Hà Nội.

    Cũng theo Bộ GTVT, vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định 1454 ngày 1/9/2021, trong đó quy hoạch tuyến đường cao tốc nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đầu tư giai đoạn trước năm 2030.

    Bộ GTVT đã phối hợp với UBND hai tỉnh Hà Giang, Yên Bái nghiên cứu phương án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Chính phủ Hàn Quốc để đầu tư dự án xây dựng đường cao tốc kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai giai đoạn 1 (khai thác với quy mô đường cao tốc 2 làn xe).

    Về phía nhà tài trợ, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc (Keximbank) đã có công thư bày tỏ sự quan tâm về việc tài trợ cho dự án. Vừa qua, Bộ GTVT đã hoàn thiện và gửi đề xuất dự án tới Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận.

    “Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề xuất dự án, Bộ GTVT sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai các thủ tục trình phê duyệt chủ trương đầu tư; phê duyệt dự án đầu tư; thương thảo, ký kết hiệp định tài trợ vốn cho dự án và dự kiến khởi công vào cuối năm 2024”, Bộ GTVT nêu rõ.

    Trước đó, đầu tháng 8/2021, trong văn bản gửi Bộ KH&ĐT và Bộ Tài chính, Bộ GTVT đề xuất đầu tư dự án xây dựng đường kết nối Hà Giang với cao tốc Nội Bài - Lào Cai giai đoạn 1 dài khoảng 83,3km.

    Điểm đầu dự án giao với cao tốc Nội Bài - Lào Cai, thuộc địa phận thị trấn Mậu A, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; điểm cuối giao với QL2, thuộc địa phận thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

    Trong giai đoạn đầu tư hoàn chỉnh, tuyến được khai thác với quy mô đường cao tốc 4 làn xe, tốc độ thiết kế 80-100km/h. Phân kỳ giai đoạn 1 khai thác với quy mô đường cao tốc 2 làn xe, nền đường rộng 13,5m. Tổng mức đầu tư dự án dự kiến khoảng 8.737 tỷ đồng, sử dụng nguồn ODA của Chính phủ Hàn Quốc và vốn đối ứng trong nước.

Sưu tầm (HLĐ)

 

 

 
 

Cầu Quang Thanh hoàn thành sẽ tạo sự liên kết giữa các vùng của TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

 

                      Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Cầu Quang Thanh nối huyện An Lão, TP Hải Phòng với huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương qua sông Văn Úc được khởi công từ ngày 16/5/2020

                      Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Cầu Quang Thanh được đầu tư xây dựng với kinh phí 398,6 tỷ đồng (trong đó chi phí xây dựng là 320 tỷ đồng), từ nguồn ngân sách TP Hải Phòng 396 tỷ đồng và ngân sách tỉnh Hải Dương là 2,6 tỷ đồng

                      Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Cầu Quang Thanh có chiều dài 536m, rộng 12m, gồm 10 nhịp, tải trọng thiết kế HL93, kích thước khoang thông thuyền là 50mx9,5m. Đây là dự án nhóm B, công trình giao thông cấp I

                       Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Cầu Quang Thanh được thiết kế là loại cầu Extradosed với các trụ chính trên sông hình hạt gạo, kèm hệ thống dây văng đỡ dầm

                        Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Sau 13 tháng thi công, đến nay công trình đã hoàn thiện, vượt 2 tháng so với kế hoạch dự kiến 15 tháng

                        Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Hiện tại, nhà thầu đã cơ bản hoàn thành công tác xây dựng. Dự kiến Bộ GTVT kiểm tra công tác nghiệm thu hoàn thành công trình trước ngày 20/6/2021

                        Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Đơn vị thi công đang tiếp tục hoàn thiện những hạng mục còn lại của công trình

                        Cận cảnh cầu Quang Thanh hình

Cầu Quang Thanh khi hoàn thành sẽ tạo sự liên kết rộng lớn giữa các vùng của TP Hải Phòng và tỉnh Hải Dương; đồng thời tạo điều kiện, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu văn hóa và đảm bảo an ninh quốc phòng, đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của 2 địa phương.

Sưu tầm (HLĐ)

Trang 1 / 31

Hình ảnh

Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com

Giới thiệu

Công ty Cổ phần Nhựa đường Thiết bị Giao thông – tên giao dịch quốc tế : Bitumen Equipment Supply for Transportation  (BEST). Được thành lập từ năm 2009, trải qua quá trình phát triển, BEST đã đầu tư, mở rộng cơ sở vật chất và xây dựng chiến lược kinh doanh để trở thành một trong số các nhà cung ứng nhựa đường hàng đầu tại Việt Nam.

Xem tiếp...

Tin nội bộ